Hiển thị các bài đăng có nhãn trẻ nhỏ. Hiển thị tất cả bài đăng

Viêm tai giữa ở trẻ nhỏ- không nên xem thường

Viêm tai giữa ở trẻ nhỏ là một căn bệnh tưởng chừng như không nguy hiểm nhưng nếu để tình trạng bệnh kéo dài có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Cùng tham khảo bài viết dưới đây để hiểu đúng về căn bệnh này nhé.

Nguyên nhân

Bệnh viêm tai giữa thường bắt đầu từ một cơn cảm khiến cho phần tai giữa bị sưng lên, nước nhầy tụ lại sau màng nhĩ.

Viêm tai giữa cũng có thể do phần ống thông giữa và mũi (eustachian tubes) bị sưng và nghẹt. Ống thông này có nhiệm vụ làm áp suất phía trong và phía ngoài tai cân bằng nhau. Ở trẻ em, ống thường ngắn và hẹp, khiến nước nhầy tiết ra dễ bị giữ lại nơi tai giữa khi ống này bị sưng và nghẹt do bệnh cảm.

Ngoài ra, cục “thịt dư” ngay phía trên họng, sau mũi, cũng có thể ảnh hưởng đến chuyện viêm tai. Cục “thịt dư” này bình thường có nhiệm vụ sản xuất bạch huyết cầu để chống nhiễm trùng, nhưng đôi khi chính chúng cũng bị nhiễm trùng và sưng to lên làm nghẽn ống thông tai.
Nhiễm trùng cục “thịt dư” này cũng có thể lan ra ống thông. Sau cùng, hệ thống miễn nhiễm của trẻ em còn yếu, do đó các em dễ bị mắc bệnh hơn người lớn, nhất là bệnh cảm và viêm tai giữa.

Biến chứng

Đa số các trường hợp viêm tai đều tự khỏi sau khoảng 1 tuần. Tuy nhiên nếu căn bệnh kéo dài, có thể đưa đến những biến chứng sau:

Không nghe rõ: chất nhầy tụ lại sau màng nhĩ khiến các em nghe không rõ được, do tín hiệu nghe khó được màng nhĩ và chuỗi xương trong tai truyền đi trong môi trường nước. Các em có thể bị mất thính lực tới 25 decibels, giống như tai bị nhét giẻ vậy.
Mất thính lực lâu dài: nước nhầy tụ sau màng nhĩ sẽ dần dần hết đi. Tuy nhiên, trong vài trường hợp, nước này có thể vẫn tồn tại nơi tai giữa một thời gian dài và có thể đưa đến phá hư màng nhĩ và chuỗi xương dẫn âm thanh.

Thủng màng nhĩ: trong thời gian tai bị viêm, nước nhầy và mủ có thể tích tụ rất nhiều trong tai giữa và đè lên màng nhĩ khiến bệnh nhân bị đau tai rất nhiều. Đôi khi sức ép của khối nước này làm màng nhĩ rách và nước mủ sẽ chảy ra tai ngoài. Tuy nhiên, nếu màng nhĩ bị rách nhiều lần và không lành, bệnh nhân sẽ bị chứng thủng màng nhĩ cần phải mổ vá lại.
Viêm xương chẩm (mastoiditis): bệnh viêm tai không được chữa lâu ngày sẽ đưa đến viêm xương chẩm, tức phần xương sọ nằm ngay sau tai. Viêm màng não hay các phần khác của đầu. Chứng này hiếm khi xảy ra.

Điều trị

Có nhiều cách chữa viêm tai tùy theo tuổi của trẻ nhỏ, bệnh sử và loại nhiễm trùng.
Nếu trẻ nhỏ khó chịu, bạn có thể cho trẻ uống thuốc giảm đau như paracetamol.
Nếu em không bị chảy mủ lỗ tai hay đã từng đặt ống trong tai, bác sĩ có thể cho một loại thuốc nhỏ tai để giảm đau.

Bác sĩ có thể cho trẻ uống thuốc kháng sinh, nên uống cho hết thuốc để chắc chắn là đã hết nhiễm trùng.

Nếu viêm tai do siêu vi, kháng sinh sẽ không làm trẻ hết bệnh nhanh hơn.
Ngược lại dùng quá nhiều kháng sinh có thể tạo ra những vi trùng kháng thuốc rất nguy hiểm.
Đặt ống trong tai: nếu trẻ nhỏ bị chất nhầy tích tụ sau màng nhĩ quá lâu khiến trẻ nghe không rõ, hoặc
trẻ bị viêm tai rất nhiều lần, có thể bác sĩ sẽ đề nghị cho trẻ đặt ống trong tai. Bác sĩ Tai mũi họng sẽ rạch một đường nhỏ nơi màng nhĩ và đặt một ống nhỏ vào đó. Ống này làm chất nhầy sau màng nhĩ chảy ra ngoài và giúp thăng bằng áp suất giữa tai ngoài và tai giữa., trẻ sẽ nghe lại được ngay. Trong vòng khoảng 1 năm, ống này sẽ tự động rơi ra và màng nhĩ tự lành. Trong thời gian chờ đợi, nếu trẻ đi bơi, sẽ phải bịt tai lại bằng “ear plug” và tránh đừng cho nước vào tai khi tắm hay gội đầu.
Vài trẻ vẫn tiếp tục bị viêm tai sau khi ống rơi ra, trường hợp này, trẻ sẽ phải đặt ống lại.

Phòng ngừa

Không cho trẻ đến gần các trẻ bệnh. Không cho đi nhà trẻ quá sớm.
Giữ không cho trẻ hít khói thuốc.
Tất cả mọi người trong nhà phải ngưng hút thuốc.
Cho trẻ bú mẹ ít nhất là 6 tháng đầu. Trong sữa mẹ có nhiều kháng thể giúp trẻ chống bệnh.

Cho trẻ ngồi cao lên khi bú bình. Đem trẻ đi chích ngừa đầy đủ.

Viêm tai giữa ở trẻ nhỏ là một căn bệnh tưởng chừng như không nguy hiểm nhưng nếu để tình trạng bệnh kéo dài có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Cùng tham khảo bài viết dưới đây để hiểu đúng về căn bệnh này nhé.

Nguyên nhân

Bệnh viêm tai giữa thường bắt đầu từ một cơn cảm khiến cho phần tai giữa bị sưng lên, nước nhầy tụ lại sau màng nhĩ.

Viêm tai giữa cũng có thể do phần ống thông giữa và mũi (eustachian tubes) bị sưng và nghẹt. Ống thông này có nhiệm vụ làm áp suất phía trong và phía ngoài tai cân bằng nhau. Ở trẻ em, ống thường ngắn và hẹp, khiến nước nhầy tiết ra dễ bị giữ lại nơi tai giữa khi ống này bị sưng và nghẹt do bệnh cảm.

Ngoài ra, cục “thịt dư” ngay phía trên họng, sau mũi, cũng có thể ảnh hưởng đến chuyện viêm tai. Cục “thịt dư” này bình thường có nhiệm vụ sản xuất bạch huyết cầu để chống nhiễm trùng, nhưng đôi khi chính chúng cũng bị nhiễm trùng và sưng to lên làm nghẽn ống thông tai.
Nhiễm trùng cục “thịt dư” này cũng có thể lan ra ống thông. Sau cùng, hệ thống miễn nhiễm của trẻ em còn yếu, do đó các em dễ bị mắc bệnh hơn người lớn, nhất là bệnh cảm và viêm tai giữa.

Biến chứng

Đa số các trường hợp viêm tai đều tự khỏi sau khoảng 1 tuần. Tuy nhiên nếu căn bệnh kéo dài, có thể đưa đến những biến chứng sau:

Không nghe rõ: chất nhầy tụ lại sau màng nhĩ khiến các em nghe không rõ được, do tín hiệu nghe khó được màng nhĩ và chuỗi xương trong tai truyền đi trong môi trường nước. Các em có thể bị mất thính lực tới 25 decibels, giống như tai bị nhét giẻ vậy.
Mất thính lực lâu dài: nước nhầy tụ sau màng nhĩ sẽ dần dần hết đi. Tuy nhiên, trong vài trường hợp, nước này có thể vẫn tồn tại nơi tai giữa một thời gian dài và có thể đưa đến phá hư màng nhĩ và chuỗi xương dẫn âm thanh.

Thủng màng nhĩ: trong thời gian tai bị viêm, nước nhầy và mủ có thể tích tụ rất nhiều trong tai giữa và đè lên màng nhĩ khiến bệnh nhân bị đau tai rất nhiều. Đôi khi sức ép của khối nước này làm màng nhĩ rách và nước mủ sẽ chảy ra tai ngoài. Tuy nhiên, nếu màng nhĩ bị rách nhiều lần và không lành, bệnh nhân sẽ bị chứng thủng màng nhĩ cần phải mổ vá lại.
Viêm xương chẩm (mastoiditis): bệnh viêm tai không được chữa lâu ngày sẽ đưa đến viêm xương chẩm, tức phần xương sọ nằm ngay sau tai. Viêm màng não hay các phần khác của đầu. Chứng này hiếm khi xảy ra.

Điều trị

Có nhiều cách chữa viêm tai tùy theo tuổi của trẻ nhỏ, bệnh sử và loại nhiễm trùng.
Nếu trẻ nhỏ khó chịu, bạn có thể cho trẻ uống thuốc giảm đau như paracetamol.
Nếu em không bị chảy mủ lỗ tai hay đã từng đặt ống trong tai, bác sĩ có thể cho một loại thuốc nhỏ tai để giảm đau.

Bác sĩ có thể cho trẻ uống thuốc kháng sinh, nên uống cho hết thuốc để chắc chắn là đã hết nhiễm trùng.

Nếu viêm tai do siêu vi, kháng sinh sẽ không làm trẻ hết bệnh nhanh hơn.
Ngược lại dùng quá nhiều kháng sinh có thể tạo ra những vi trùng kháng thuốc rất nguy hiểm.
Đặt ống trong tai: nếu trẻ nhỏ bị chất nhầy tích tụ sau màng nhĩ quá lâu khiến trẻ nghe không rõ, hoặc
trẻ bị viêm tai rất nhiều lần, có thể bác sĩ sẽ đề nghị cho trẻ đặt ống trong tai. Bác sĩ Tai mũi họng sẽ rạch một đường nhỏ nơi màng nhĩ và đặt một ống nhỏ vào đó. Ống này làm chất nhầy sau màng nhĩ chảy ra ngoài và giúp thăng bằng áp suất giữa tai ngoài và tai giữa., trẻ sẽ nghe lại được ngay. Trong vòng khoảng 1 năm, ống này sẽ tự động rơi ra và màng nhĩ tự lành. Trong thời gian chờ đợi, nếu trẻ đi bơi, sẽ phải bịt tai lại bằng “ear plug” và tránh đừng cho nước vào tai khi tắm hay gội đầu.
Vài trẻ vẫn tiếp tục bị viêm tai sau khi ống rơi ra, trường hợp này, trẻ sẽ phải đặt ống lại.

Phòng ngừa

Không cho trẻ đến gần các trẻ bệnh. Không cho đi nhà trẻ quá sớm.
Giữ không cho trẻ hít khói thuốc.
Tất cả mọi người trong nhà phải ngưng hút thuốc.
Cho trẻ bú mẹ ít nhất là 6 tháng đầu. Trong sữa mẹ có nhiều kháng thể giúp trẻ chống bệnh.

Cho trẻ ngồi cao lên khi bú bình. Đem trẻ đi chích ngừa đầy đủ.

Chỉnh tật chân khoèo cho bé



Chân khoèo bẩm sinh là một biến dạng có thể điều trị khỏi hoàn toàn nếu được xử lý sớm và đúng cách.Với mức độ nhẹ, có thể chỉ xử trí tại khoa phục hồi chức năng của các bệnh viện và sau đó cha mẹ được hướng dẫn để tập luyện cho trẻ tại nhà. Với mức độ nặng, trẻ có thể phải bó bột hoặc phẫu thuật tại các BV có chuyên khoa chấn thương chỉnh hình.

Bàn chân khoèo bẩm sinh là một biến dạng của một hoặc cả hai bàn chân từ lúc mới sinh, có thể được chẩn đoán trước sinh qua siêu âm hình thái học. Biến dạng hình thành vào ba tháng giữa của thai kỳ.

 Điển hình với sự phối hợp của ba biến dạng

Biến dạng gấp và nghiêng vào trong của vùng gót chân.

Biến dạng khép và nghiêng vào trong của vùng giữa bàn chân.

Biến dạng gập vào phía lòng bàn chân của phần trước bàn chân khiến vòm gan chân sâu hơn bình thường.

Biến dạng của bàn chân khoèo có thể nhẹ, mềm hoặc nặng, cứng, có thể kèm theo biến dạng xương bàn chân.
 Chân khoèo là một bệnh lý tiến triển nên sẽ tăng dần theo tuổi, nếu trẻ không được điều trị. Bệnh có tỷ lệ 30/00 trẻ sinh sống, nam nhiều hơn nữ.

TS-BS Lê Thị Thu Hà - Phó Trưởng khoa Sản A BV Từ Dũ TP.HCM cho biết: Việc chỉnh hình cho trẻ khoèo chân nên được thực hiện sớm sau khi sinh. Nếu có thể, nên bắt đầu ngay từ ngày thứ hai trẻ ra đời. Lúc đó, xương, khớp và các dây chằng của trẻ còn mềm, dễ uốn chỉnh. Khi trẻ lớn hơn, xương sẽ cứng lại và biến dạng, khiến việc chỉnh hình khó khăn hơn.

Nhiều trường hợp bàn chân khoèo bẩm sinh được chỉnh hình thành công mà không cần phẫu thuật trong vòng từ sáu đến tám tuần. Tùy theo mức độ nặng nhẹ, có thể điều trị bằng cách nắn chỉnh tư thế bàn chân phối hợp với bất động bằng băng thun, nẹp chỉnh hình hoặc bó bột. Trẻ bị khoèo nhẹ hoặc vừa sẽ được dùng băng thun. 

Với phương pháp này, mỗi sáu ngày trẻ sẽ được tháo băng, chân được thoải mái trong ngày thứ bảy và quấn lại băng vào ngày thứ tám. Việc quấn băng lặp đi lặp lại cho tới khi bàn chân đã được chỉnh hình tốt (sau khoảng từ sáu đến tám tuần).

Nếu bàn chân khoèo nặng, sẽ áp dụng phương pháp chỉnh hình bằng bó bột. Việc bó bột được thực hiện tuần tự như sau:

Bước 1: điều chỉnh biến dạng của phần trước bàn chân để duỗi thẳng bàn chân.

Bước 2: điều chỉnh biến dạng nghiêng bàn chân vào trong bằng cách đưa bàn chân xoay ngoài.

Bước 3: điều chỉnh biến dạng vùng gót chân bằng cách đưa bàn chân lên cao, sao cho phía bờ ngoài bàn chân ngoài cao hơn bờ trong.

Việc thay bột được thực hiện hàng tuần cho tới khi đạt kết quả mong muốn. Trường hợp chỉnh hình bằng băng thun hoặc bó bột không có kết quả sẽ phải chỉnh hình bằng phẫu thuật.

Bàn chân khoèo được chỉnh hình thành công không có nghĩa là trẻ sẽ lành vĩnh viễn mà vẫn có nguy cơ tái phát, vì vậy phải ngăn ngừa tái phát bằng cách:

Thực hiện bài tập duỗi bàn chân hai hoặc nhiều lần mỗi ngày, mỗi lần khoảng 10 lượt.

Mang máng bàn chân (tự làm hoặc do cơ sở điều trị cung cấp) cả ngày lẫn đêm, ít nhất cho tới khi trẻ có thể đi được, sau đó vẫn tiếp tục mang máng vào ban đêm.

Nhiều trẻ cần phải mang máng phối hợp với giày chỉnh hình cho tới khi bàn chân ngừng phát triển (khoảng từ 15 đến 18 tuổi).

Sưu tầm bởi Bệnh Viện FV


Chân khoèo bẩm sinh là một biến dạng có thể điều trị khỏi hoàn toàn nếu được xử lý sớm và đúng cách.Với mức độ nhẹ, có thể chỉ xử trí tại khoa phục hồi chức năng của các bệnh viện và sau đó cha mẹ được hướng dẫn để tập luyện cho trẻ tại nhà. Với mức độ nặng, trẻ có thể phải bó bột hoặc phẫu thuật tại các BV có chuyên khoa chấn thương chỉnh hình.

Bàn chân khoèo bẩm sinh là một biến dạng của một hoặc cả hai bàn chân từ lúc mới sinh, có thể được chẩn đoán trước sinh qua siêu âm hình thái học. Biến dạng hình thành vào ba tháng giữa của thai kỳ.

 Điển hình với sự phối hợp của ba biến dạng

Biến dạng gấp và nghiêng vào trong của vùng gót chân.

Biến dạng khép và nghiêng vào trong của vùng giữa bàn chân.

Biến dạng gập vào phía lòng bàn chân của phần trước bàn chân khiến vòm gan chân sâu hơn bình thường.

Biến dạng của bàn chân khoèo có thể nhẹ, mềm hoặc nặng, cứng, có thể kèm theo biến dạng xương bàn chân.
 Chân khoèo là một bệnh lý tiến triển nên sẽ tăng dần theo tuổi, nếu trẻ không được điều trị. Bệnh có tỷ lệ 30/00 trẻ sinh sống, nam nhiều hơn nữ.

TS-BS Lê Thị Thu Hà - Phó Trưởng khoa Sản A BV Từ Dũ TP.HCM cho biết: Việc chỉnh hình cho trẻ khoèo chân nên được thực hiện sớm sau khi sinh. Nếu có thể, nên bắt đầu ngay từ ngày thứ hai trẻ ra đời. Lúc đó, xương, khớp và các dây chằng của trẻ còn mềm, dễ uốn chỉnh. Khi trẻ lớn hơn, xương sẽ cứng lại và biến dạng, khiến việc chỉnh hình khó khăn hơn.

Nhiều trường hợp bàn chân khoèo bẩm sinh được chỉnh hình thành công mà không cần phẫu thuật trong vòng từ sáu đến tám tuần. Tùy theo mức độ nặng nhẹ, có thể điều trị bằng cách nắn chỉnh tư thế bàn chân phối hợp với bất động bằng băng thun, nẹp chỉnh hình hoặc bó bột. Trẻ bị khoèo nhẹ hoặc vừa sẽ được dùng băng thun. 

Với phương pháp này, mỗi sáu ngày trẻ sẽ được tháo băng, chân được thoải mái trong ngày thứ bảy và quấn lại băng vào ngày thứ tám. Việc quấn băng lặp đi lặp lại cho tới khi bàn chân đã được chỉnh hình tốt (sau khoảng từ sáu đến tám tuần).

Nếu bàn chân khoèo nặng, sẽ áp dụng phương pháp chỉnh hình bằng bó bột. Việc bó bột được thực hiện tuần tự như sau:

Bước 1: điều chỉnh biến dạng của phần trước bàn chân để duỗi thẳng bàn chân.

Bước 2: điều chỉnh biến dạng nghiêng bàn chân vào trong bằng cách đưa bàn chân xoay ngoài.

Bước 3: điều chỉnh biến dạng vùng gót chân bằng cách đưa bàn chân lên cao, sao cho phía bờ ngoài bàn chân ngoài cao hơn bờ trong.

Việc thay bột được thực hiện hàng tuần cho tới khi đạt kết quả mong muốn. Trường hợp chỉnh hình bằng băng thun hoặc bó bột không có kết quả sẽ phải chỉnh hình bằng phẫu thuật.

Bàn chân khoèo được chỉnh hình thành công không có nghĩa là trẻ sẽ lành vĩnh viễn mà vẫn có nguy cơ tái phát, vì vậy phải ngăn ngừa tái phát bằng cách:

Thực hiện bài tập duỗi bàn chân hai hoặc nhiều lần mỗi ngày, mỗi lần khoảng 10 lượt.

Mang máng bàn chân (tự làm hoặc do cơ sở điều trị cung cấp) cả ngày lẫn đêm, ít nhất cho tới khi trẻ có thể đi được, sau đó vẫn tiếp tục mang máng vào ban đêm.

Nhiều trẻ cần phải mang máng phối hợp với giày chỉnh hình cho tới khi bàn chân ngừng phát triển (khoảng từ 15 đến 18 tuổi).

Sưu tầm bởi Bệnh Viện FV

Phòng Và Chữa Bệnh Viêm Tai Giữa Ở Trẻ Nhỏ

Viêm tai giữa ở trẻ nhỏ gây ra nhiều hiểm họa khó lường mà có lẽ bạn còn chưa nghĩ đến. Cùng tham khảo bài viết dưới đây để lưu ý cách chữa bệnh viêm tai giữa ở trẻ nhỏ nhé!

Sau cảm lạnh dễ bị viêm tai giữa

Tai giữa chỉ to bằng hạt đậu ở phía sau màng nhĩ, gồm 3 xương rất nhỏ truyền rung động từ màng nhĩ vào tai trong, chuyển đổi thành xung động thần kinh giúp ta nghe được. Tai giữa được nối với mũi và họng bởi vòi nhĩ. Bình thường vòi nhĩ giúp cân bằng áp lực trong và ngoài tai, đồng thời làm khô dịch ở tai giữa. Hầu hết viêm tai xảy ra sau khi trẻ bị cảm lạnh và thường kèm theo sưng và viêm vòi nhĩ.

Khi vòi nhĩ bị viêm làm tắc vòi hoàn toàn, gây ứ dịch ở tai giữa. Sự ứ dịch ảnh hưởng tới thính lực của trẻ ở mức độ nhẹ, do màng nhĩ và các xương nhỏ ở tai giữa khó truyền rung động âm thanh trong dịch. Mặt khác, dịch đọng lại ở tai giữa tạo môi trường lý tưởng cho vi khuẩn và virut phát triển gây bệnh. Dịch
Viêm tai giữa ở trẻ nhỏ gây ra nhiều hiểm họa khó lường mà có lẽ bạn còn chưa nghĩ đến. Cùng tham khảo bài viết dưới đây để lưu ý cách chữa bệnh viêm tai giữa ở trẻ nhỏ nhé!

Sau cảm lạnh dễ bị viêm tai giữa

Tai giữa chỉ to bằng hạt đậu ở phía sau màng nhĩ, gồm 3 xương rất nhỏ truyền rung động từ màng nhĩ vào tai trong, chuyển đổi thành xung động thần kinh giúp ta nghe được. Tai giữa được nối với mũi và họng bởi vòi nhĩ. Bình thường vòi nhĩ giúp cân bằng áp lực trong và ngoài tai, đồng thời làm khô dịch ở tai giữa. Hầu hết viêm tai xảy ra sau khi trẻ bị cảm lạnh và thường kèm theo sưng và viêm vòi nhĩ.

Khi vòi nhĩ bị viêm làm tắc vòi hoàn toàn, gây ứ dịch ở tai giữa. Sự ứ dịch ảnh hưởng tới thính lực của trẻ ở mức độ nhẹ, do màng nhĩ và các xương nhỏ ở tai giữa khó truyền rung động âm thanh trong dịch. Mặt khác, dịch đọng lại ở tai giữa tạo môi trường lý tưởng cho vi khuẩn và virut phát triển gây bệnh. Dịch